Hướng Dẫn Chăm Sóc Bò Thịt Vỗ Béo Hiệu quả

1. Đặc điểm sinh lý, tuổi và giới tính bò
 

Trong quy trình vỗ béo và giết mổ, hiện nay người ta thường nuôi bò từ 16 – 24 tháng tuổi với quy trình công nghệ cao để giết mổ.

Tuổi giết mổ khác nhau thì chất lượng thịt cũng khác nhau: Bê và bò tơ cho thịt màu nhạt, ít mỡ, thịt mềm và thơm ngon hơn. Bò lớn tuổi cho thịt màu đỏ, đậm, nhiều mỡ, thịt dai hơn và tất nhiên là không thơm ngon bằng thịt bê tơ. Tỷ lệ các cơ quan nội tạng sẽ giảm theo tuổi và ngược lại độ béo sẽ tăng dần lên.

Thường thì bò cái thớ thịt nhỏ hơn bò đực, mô giữa các cơ ít hơn, thịt vị đậm hơn, vỗ béo nhanh hơn. Ngược lại bò đực có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò cái cùng độ tuổi vì bò cái có cơ quan sinh dục phát triển hơn bò đực. Trong quy trình vỗ béo người ta có thể thiến bò đực lúc 7 – 12 tháng tuổi để vỗ béo, nếu bò thiến sớm để vỗ béo thì thịt bò sẽ mềm hơn và béo nhanh hơn.

 

- Với bò đực: Tuổi bắt đầu phối giống từ 24 - 26 tháng tuổi và thời gian sử dụng phối giống tất nhất là từ 2 - 6 năm tuổi.

Đối với bò cái: Tuổi thành thục sinh dục 18 - 24 tháng tuổi, chu kỳ động dục trung bình là 21 ngày, thời gian mang thai 9 tháng 10 ngày và thời gian động dục trở lại sau khi sinh con 60 - 70 ngày.

2. Chọn giống 

 

Giống là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Giống khác nhau thì tốc độ sinh trưởng, phát triển, tích lũy thịt, mỡ khác nhau: Con lai của bò Charolaise có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn con lai của bò Hereford và ngược lại, tổ chức mỡ của thịt bò Charolaise thấp hơn thịt bò Hereford. Bò vàng Việt Nam có tỷ lệ thịt xẻ là 42%, tỷ lệ thịt tinh là 31%, trong khi đó bò thịt Charolaise có tỷ lệ thịt xẻ 60%, tỷ lệ thịt tinh là 45%.

Hiện nay trên thế giới nhiều giống bò có tỷ lệ thịt xẻ tới 70%, tỷ lệ thịt tinh trên 50%, giá trị dinh dưỡng thịt rất cao và rất thơm, ngon. Ngoài các giống bò chuyên thịt, ở các cơ sở chăn nuôi bò sữa, người ta cũng chọn lọc những bê đực khỏe mạnh đưa vào nuôi dưỡng với một chế độ thích hợp để vỗ béo và giết mổ. Đây cũng là những nguồn cung cấp sản phẩm thịt bò chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng thịt bò.
 

Chọn những con tốt, thân hình vạm vỡ, mình tròn, phía mông và vai phát triển như nhau giống hình trụ. Nên biết rõ nguồn góc và tính năng SX của đòi bố mẹ.

Một số giống bò được nuôi phổ biến tại Việt Nam :

- Giống bò nội: Bò vàng Việt Nam ( Bosindicus ) .

- Giống bò lai ngoại: Con lai Zêbu ( nhóm bò Zêbu gồm các giống: Redsindhi, Sahiwal, Brah-man đỏ, Brahman trắng, Ongole ).

3. Chuồng trại 

Mục tiêu là để thuận lợi cho công tác nuôi dưỡng, quản lý đàn bò. Xây dựng chuồng nuôi bò ở những nơi cao ráo, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hướng chuồng xây theo hướng Nam hoặc Đông Nam, diện tích chuồng nuôi bình quân 3-5 m2/ con. Tuỳ theo qui mô mà chuồng có thể xây dựng 1 dãy hoặc 2 dãy. Nền chuồng phải làm chắc, không láng trơn, có độ dốc 2-3% về phía rãnh thoát. Cần trang bị máng ăn, máng uống dọc theo hành lang, kích thước máng ăn 60 cm x 120 cm, cao phía sau 80 cm, cao phía trước 50 cm, trong lòng máng hình lòng mo. Kích thước máng uống dài x rộng x sâu là 60 cm x 60 cm x 40 cm. Rãnh thoát nước thải thiết kế phía sau rộng 30 cm, sâu 30 cm, độ dốc 5-8%. Ngoài ra cần bố trí thêm hố ủ phân hoặc hầm biogas, hệ thống rèm che cách tầm bò với 1-1,5m, hệ thống cây xanh chống nóng cho bò trong mùa hè, ..vv.

- Xây dựng nơi cao ráo, thoáng mát và có màng lưới bao xung quanh chuồng để chống ruồi, muỗi và các côn trùng khác xâm nhập ( trong chăn nuôi hộ gia đình ).

- Nền cứng, không trơn trượt và có độ dốc để dễ thoát nước.

- Diện tích tối thiểu : 2,5 - 3m2/con bò thịt.

- Máng ăn và máng uống nên làm bằng xi măng đặt theo chiều dài hành lang phân phối thúc ăn.

- Cần có biện pháp xử lý phân để hạn chế ô nhiễm môi trường chung quanh và lây lan cỏ dại.

4. Vệ sinh thú y

- Tiêu độc, khử trùng và vệ sinh chuồng trại.

- Vệ sinh phòng bệnh: Thực hiện phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Chuồng trại, máng ăn, máng uống, môi trường xung quanh và cơ thể bò phải luôn được sạch sẽ. Định kỳ tẩy uế chuồng trại, khu vực xung quanh chuồng nuôi, phát quang bờ bụi, khơi thông cống rãnh, thu gom xử lý chất thải. Tích cực diệt chuột, dán, ve, ruồi muỗi, hạn chế tối đa các động vật trung gian truyền bệnh vào khu vực chăn nuôi bò.

- Thức ăn nước uống phải đảm bảo sạch sẽ, an toàn vệ sinh.

- Thường xuyên kiểm tra theo dõi đàn bò khi có dấu hiệu biểu hiện không bình thường cần can thiệp ngay.

- Tiêm vacxin phòng bệnh đầy đủ các loại bệnh bắt buộc cho bò 2 lần / năm như: bệnh tụ huyết trùng trâu bò, lở mồm long móng, …

- Chuồng nuôi phải được làm vệ sinh hàng ngày và phải được khử trùng định kỳ theo chế độ phòng bệnh của thú y.

- Sau khi xuất toàn bộ vật nuôi phải tiến hành khử trùng toàn bộ chuồng nuôi theo chế độ tổng vệ sinh và khử trùng trước khi nuôi lứa mới.

- Trường hợp trong chuồng nuôi có vật nuôi bị chết vì bệnh dịch thì phải thực hiện chế độ khử trùng cấp bách theo hướng dẫn của thú y

5. Tẩy ký sinh trùng cho bò

Để bò khỏe mạn lớn nhanh cần tẩy ký sinh trùng theo các phương pháp dưới đây:

- Đối với ngoại ký sinh trùng:

Sử dụng các loại thuốc có phổ hoạt lực rộng như Neuguvon hoặc Asuntol hòa thành dung dịch tắm hoặc xoa. Pha và sử dụng thuốc Nevugvon với liều phổ biến 1à 25g/lít nước, bổ sung 50ml dầu ăn và 20g xà phòng bột lắc đều trước khi sử dụng. Dùng bình phun đều lên cơ thể bò, đặc biệt là vùng bẹn, nách và yếm. Có thể đeo găng tay, dùng giẻ để bôi thuốc. Không để thuốc bám vào người, quần áo. Không hút thuốc, ăn uống trong khi pha và bôi thuốc.

- Đối với nội ký sinh trùng:

Sử dụng các loại thuốc có phổ hoạt lực rộng như: Levamisole, Tetramisole điều trị nội ký sinh trùng đường ruột và Fasinex điều trị sán lá gan.

 

 

Liều lượng: Levamisole 7,5%, dùng 1ml/20kg thể trọng. Fasinex dùng 1 viên /75kg thể trọng. Cách sử dụng: Cho uống, trộn vào thức ăn hoặc tiêm theo hướng dẫn.

6. Khẩu phần ăn, dinh dưỡng và phương thức vỗ béo


Kỹ thuật chăn nuôi thâm canh bò thịt hiện nay là chọn lọc những bê khỏe mạnh của các giống cao sản chuyên thịt, đưa vào nuôi dưỡng với chế độ thâm canh cao để đạt được khối lượng giết mổ cao nhất ở giai đoạn bê sinh trưởng với cường độ cao nhất ( dưới 24 tháng tuổi ). Các khẩu phần ăn khác nhau sẽ cho tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt tinh khác nhau khi giết mổ.

Dù vỗ béo theo phương thức nào, vỗ béo sớm hay vỗ béo muộn, đối với bò thịt trước khi giết mổ bắt buộc phải có công đoạn vỗ béo. Vỗ béo là dùng biện pháp dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng làm cho khối lượng con vật tăng nhanh và phẩm chất thịt được cải thiện. Thời gian vỗ béo tùy thuộc vào phương thức vỗ béo, thức ăn, giống, độ béo của bò. Thời gian vỗ béo quá ngắn thì thịt sẽ nhiều nước, thời gian vỗ béo thích hợp thì chất lượng thịt sẽ cao hơn.

Khẩu phần thức ăn vỗ béo cho bò giàu đạm và nhiều sắt thì thịt bò sẽ đỏ đậm, khẩu phần thức ăn có nhiều bột bắp thì mỡ bò sẽ vàng, thịt thơm ngon và khẩu phần thức ăn có tỷ lệ các phụ phẩm công nghiệp thì thịt bò có thớ lớn và nhiều mỡ giắt ( mỡ giữa các lớp thịt ).

Để bò có tốc độ lớn nhanh nhất thì lượng thức ăn đảm bảo năng lượng cao được ăn vào hàng ngày là 2,5% trọng lượng cơ thể. Ví dụ, bò nặng 200kg cần khoảng 5kg vật chất khô trong một ngày, còn thức ăn thô xơ khoảng 15 – 20kg. Khẩu phần hoàn chỉnh là đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho bò. Bò có thể tự do lựa chọn sau khi đã trộn lẫn hoàn toàn cả hai loại thức ăn tinh và thô với nhau. Phương pháp cho ăn và tập cho bò ăn thức ăn tinh vô cùng quan trọng. Lúc đầu nên cho bò ăn nhiều thức ăn thô xanh, ít thức ăn tinh để bò làm quen với khẩu phần năng lượng cao. Nếu ngay từ đầu bò ăn nhiều thức ăn tinh có thể bị chết do ngộ độc axít (acidosis). Thức ăn thô xanh cần sử dựng kết hợp với thức ăn tinh để tạo ra một khẩu phần ăn hoàn chỉnh.

Khẩu phần ăn cho bò nhốt chuồng bao gồm: thức ăn thô xanh, phụ phẩm, thức ăn tinh, thức ăn bổ sung khoáng và vitamin. Căn cứ vào nguồn thức ăn sẵn có để lựa chọn các nguyên liệu chính như sau:

- Thức ăn thô xanh: Các loại cỏ băm nhỏ, thức ăn băm nhỏ ủ chua, phụ phẩm nông nghiệp băm nhỏ, phụ phẩm công nghiệp (bã bia, rượu, rỉ mật, bã đậu, bã dứa, vỏ hoa quả) chiếm 55-60% vật chất khô trong khẩu phần.

- Thức ăn tinh hỗn hợp: Các loại Sắn Nghiền, ngô Nghiền, khô dầu lạc, bột keo dậu. Thức ăn tinh hỗn hợp… chiếm 40-45% vật chất khô trong khẩu phần.

- Nguồn thức ăn chủ yếu của bò gồm các loại cỏ tươi, rơm rạ, cỏ khô, thức ăn xanh thô và củ, quả...

- Ngoài ra nên sử dụng thức ăn ủ chua hoặc rơm được kiềm hóa và thức ăn tinh chế chủ động trong việc tìm thức ăn cho bò.

- Trong chăn nuôi bò thịt, mỗi gia đình cần dành 500 - 1.000m2 đất để trống các loại cỏ như cỏ voi, cỏ sả, cỏ lông tây, cây bình linh... để lấy thức ăn cho bò.

7. Chăm sóc, nuôi dưỡng, vỗ béo

- Bò cái chửa: Cần cho ăn uống đầy đủ, tránh cày kéo nặng, đặc biệt là ở những tháng chửa cuối cùng. Nhu cầu ăn mỗi ngày là: 25 - 30kg cỏ tươi, 2kg rơm, 1 kg thức ăn tinh và 20 - 30g muối.

- Bò cái nuôi con. Ngoài khẩu phần trên, cần cho thêm các thức ăn củ quả tươi và thức ăn tinh để bò cái tăng khả năng tiết sữa nuôi con.

- Bê con: Tập cho bê con ăn cỏ khô từ tháng thứ 2, cỏ tươi và củ quả từ tháng thứ 4 và cai sữa từ tháng thứ 6. Khi trời nắng ấm nên cho bê con vận động tự do. Nhu cầu ăn mỗi ngày 5 - 10kg cỏ tươi, 0,2 - 0,3kg thức ăn tinh.

- Bê từ 6 - 24 tháng: Trường hợp nuôi chuồng phải thường xuyên cho bò, bê ra sân vận động từ 2-4 giờ/ngày. Nhu cầu ăn một ngày: 10 - 15kg cỏ tươi và cho ăn thêm các thức ăn tận dụng khác như ngọn mía, dây khoai, rơm rạ, cỏ khô, cỏ ủ chua và củ quả thay thế.

- Để có bò thịt đạt khối lượng cuối cùng khi giết thịt từ 250-300kg lúc 24 tháng tuổi cần nuôi vỗ béo bò trong khoảng 80-90 ngày trước khi bán bằng thức ăn tinh 1 kg/con/ ngày.
 

8. Khối lượng lúc giết mổ

Khối lượng bò đưa vào giết mổ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : Giống, khả năng tăng trọng, thời điểm tích lũy nạc lớn nhất, chế độ nuôi dưỡng, hệ số tiêu tốn thức ăn, thị trường và giá cả...

Mô hình làm giàu từ nuôi bò vỗ béo

Trong phát triển kinh tế gia đình thì nuôi bò vỗ béo là kinh tế phụ của nhiều nông hộ ở Bến Tre. Bởi bò là vật nuôi ít bị rủi ro, dễ nuôi, dễ chăm sóc, chi phí thức ăn thấp, chủ yếu lấy công làm lời nên được nông dân chọn nuôi. Những năm gần đây, với việc giá bò ổn định ở mức cao, nhiều nông dân ở xã Phú Lễ huyện Ba Tri đã đầu tư nuôi bò vỗ béo; đặc biệt có những hộ đầu tư nuôi qui mô lớn, đạt hiệu quả kinh tế cao.

- Ông Hạ Chí Phát, ấp Phú Thạnh và anh Võ Công Lập ở ấp Phú Lợi, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri là những nông dân đang nuôi bò vỗ béo quy mô lớn thành công tại tỉnh Bến Tre hiện nay. Trong những năm qua, gia đình ông Phát, anh Lập đạt thu nhập khá cao nhờ nghề nuôi bò vỗ béo.

- Ông Phát nuôi bò vỗ béo khoảng 10 năm nay. Những năm trước đây, mỗi năm Ông chỉ nuôi từ 2 – 4 con, thức ăn chính để ông nuôi bò chủ yếu là cỏ, rơm. Nhận thấy việc nuôi bò vỗ béo dễ đạt kết quả và đem về hiệu quả kinh tế cao cho gia đình, cách nay 3 năm, Ông đầu tư xây chuồng trại, nuôi bò vỗ béo quy mô thường xuyên 20 bò đực giống lai Sind. Cách nuôi bò vỗ béo của ông Phát là Ông tìm chọn mua bò đực giống khoảng 10 - 12 tháng tuổi, Ông nuôi thời gian khoảng 6 - 8 tháng sẽ xuất bán. Nuôi theo cách này, mỗi năm ông Phát bán được 2 đợt bò. Với 1,5 hecta đất trồng lúa, sản xuất 3 vụ/năm, nguồn rơm đủ để làm thức ăn cho Ông nuôi số lượng bò trên. Ngoài ra để bò mau lớn, đẹp, Ông còn kết hợp cho bò ăn hèm, cám dừa…. Theo kinh nghiệm của ông Phát, để nuôi bò vỗ béo đạt kết quả thì việc chọn con giống và cách chăm sóc là yếu tố quyết định. Ông Phát cho biết: “Khi chọn bò giống phải chọn bò mập mạp, lưng bò rộng để nuôi, khi lớn bò mới có thịt bán giá cao. Trong quá trình nuôi 1 tuần phải tắm bò vài lần, cho bò uống nước cám ngày 2 lần, cỏ, rơm thì cho bò ăn đầy đủ bò mới mau lớn. Trong quá trình nuôi cần tiêm ngừa 1 hoặc 2 lần nuôi để bò không bị bệnh, tránh thiệt hại trong quá trình nuôi”.

- Theo ông Phát cho biết, với cách nuôi bò như Ông, mỗi tháng chi phí đầu tư cho một con bò ăn khoảng 500.000 đồng. Sau 6 – 8 tháng nuôi, mỗi con bò ông xuất bán ở mức 18 – 20 triệu đồng. Sau khi trừ các chi phí, con giống, thức ăn, Ông còn lãi khoảng 2 triệu đồng mỗi con. Nhờ nuôi bò vỗ béo số lượng nhiều, 3 năm nay, mỗi năm ông Phát thu lãi từ 80 đến trên 100 triệu đồng.

- Còn anh Võ Công Lập, ấp Phú Lợi, xã Phú Lễ, những năm trước đây mỗi năm nuôi 10 con bò, chủ yếu nuôi bò nái sinh sản để bán bò nghé. Hai năm nay thấy thị trường bò thịt giá cao, ổn định, anh không bán bò nghé mà để nuôi đồng thời mua thêm nghé đực về, tăng số lượng đàn bò nuôi vỗ béo mỗi năm 10 con. Để nuôi 20 con bò gồm bò nái sinh sản và bò vỗ béo, anh Lập trồng 1.500 m2 cỏ và mua 6 mẫu rơm, kết hợp cho bò uống nước cám dừa. Năm 2010, anh Lập bán 10 con bò thịt lãi trên 50 triệu đồng. Năm nay, anh tiếp tục nâng tổng đàn bò nuôi của mình là 23 con, trong đó có 13 bò đực được anh đầu tư nuôi vỗ béo. Anh Lập cho biết: “Nuôi bò vỗ béo ngoài việc chọn bò giống thì khâu quan trọng là cho bò ăn đầy đủ và cho ăn thúc ở giai đoạn khi còn từ 2 – 3 tháng bán bò. Chăm sóc bò tốt trong giai đoạn này giúp bò mướt, đẹp, trọng lượng cao, sẽ dễ bán cho khách hàng”.

- Chị Trần Thị Ngọc Liên, cũng tại ấp Phú Lợi đã thoát nghèo nhờ nuôi bò vỗ béo. Từ số lượng nuôi trước đây chỉ 2 con mỗi năm, năm 2010 chị mạnh dạn đầu tư 57 triệu đồng mua 12 con bò nghé đực nuôi bò vỗ béo. Chị Liên vừa bán 10 con bò đực thịt được 170 triệu đồng. Nhờ tận dụng nguồn rơm từ ruộng lúa của gia đình cho bò ăn, nên sau khi trừ các chi phí con giống, nước cám, chị Liên còn lãi trên 60 triệu đồng, trong khi chị còn 2 con bò chưa bán trị giá trên 30 triệu đồng. Chị Liên vừa mua 7 bò nghé đực trị giá 64 triệu đồng để tiếp tục đầu tư nuôi vỗ béo.

- Ông Lê Văn Nết, chủ tịch HND xã Phú Lễ cho biết: Xã Phú Lễ có số hộ nuôi bò chiếm tỷ lệ cao nhất so với các địa phương khác trong huyện Ba Tri. Toàn xã có 1.700 hộ dân, trong số này có khỏang 1.300 hộ nuôi bò, với tổng đàn bò trên 5.000 con, có 70% hộ dân đầu tư nuôi bò vỗ béo và đem lại kinh tế khá cho gia đình.

Được đăng vào

Viết bình luận